[Sony: chuyện chưa kể] 7 sự thật thú vị có thể bạn chưa biết: Pin siêu bền, tiên phong 3 loại tai nghe, thiết lập các tiêu chuẩn nghe nhìn

cover

*Xem thêm: [Sony: chuyện chưa kể] 10 mẫu TV biểu tượng có thể bạn chưa biết.

#1: Pin Li-ion.

Như các bạn biết, ngành công nghệ di động phát triển như vũ bão những năm qua đã tạo nên sự bùng nổ về số lượng và chủng loại thiết bị di động, xung quanh bạn có cả chục những sản phẩm như vậy. Và phần lớn chúng đều sử dụng chung một công nghệ pin là Li-ion. Công ty điện tử đã thương mại hóa công nghệ pin Li-ion trên quy mô công nghiệp đầu tiên trên thế giới năm 1991 chính là Sony.

Thật đáng tiếc khi Sony đã không thể duy trì và phát triển mảng kinh doanh pin năng lượng, bởi đây đáng lẽ phải là một trong những mảng kinh doanh phát đạt đáng tự hào của họ. Trước khi chuyển giao một phần bộ phận pin cho công ty Murata, Sony đã là nhà sản xuất pin Li-ion lớn thứ 5 thế giới.

1991 lithium-ion 1

Công nghệ pin Li-ion Polymer của Sony

Pin Li-ion Polymer của Sony sử dụng một chất gel đặc biệt giúp nó tăng khả năng chống chịu và an toàn cho viên pin, kéo dài tuổi thọ. Sở dĩ Sony chuyển hướng sang tập trung vào pin Li-ion Polymer là bởi xuất hiện nhiều các báo cáo cháy nổ, họ muốn hướng đến yếu tố an toàn và độ bền của viên pin hơn là dung lượng cao. Mật độ lưu trữ của Li-ion Polymer kém hơn so với Li-ion vốn dùng chất điện phân lỏng, nhưng sau một thời gian sử dụng dài, khả năng bảo toàn năng lượng của nó lại tốt hơn. Sony quảng cáo các viên pin của họ có thể giữu được 80% dung lượng so với ban đầu sau chu kì 1.000 lần nạp/xả.

Bất lợi của Sony so với các hãng khác khi chọn Li-ion Polymer làm công nghệ chủ đạo, đó là ở mật độ lưu trữ năng lượng thấp khiến dung lượng pin không còn là yếu tố đảm bảo trong mắt khách hàng cuối – 4000 mAh với 3000 mAh, đương nhiên họ thích 4000 hơn – cũng như chi phí sản xuất cao hơn đối thủ.

1991 lithium-ion 2

Pin Olivine-type Li-ion Iron Phosphate của Sony, công thức hóa học là LiFePO4 với một cấu trúc tinh thể cực kì bền vững

Năm 2009, Sony công bố một loại pin mới là Olivine-type Li-ion Iron Phosphate.

Nhấn mạnh vào độ bền và an toàn như một phương châm kinh doanh, Sony nghiên cứu tiếp ra loại pin Olivine-type Lithium Iron Phosphate. Sử dụng kết cấu tinh thể rắn siêu bền bỉ làm vật liệu chế tạo Cathode và được đánh giá cực kì cao về độ bền và độ ổn định. Theo Sony, pin của họ có thể giữ được 80% dung lượng ban đầu sau chu kì sạc/xả lên đến 2.000 lần, và nó không giải phóng khí oxy khi nhiệt độ môi trường tăng cao nên đặc biệt an toàn. Trong điều kiện phòng trung bình 23 độ C, sạc/xả 1 lần mỗi ngày, viên pin có thể đạt vòng đời lên đến 15 năm trước khi hư hỏng không thể sử dụng được nữa.

Bền bỉ là thế, an toàn là thế, vậy mà loại pin này của Sony còn có thể đạt thời gian sạc cực kì nhanh. Bạn sẽ chỉ mất 30 phút để sạc đủ 99% – bằng một nửa thời gian so với các loại pin Li-ion thông thường vốn sử dụng Cobalt làm vật liệu Cathode.

#2: Tai nghe earbud, neckband và chống ồn KTS.

1982 MDR-E252

Tai nghe earbud E252

Khi nói về những chiếc tai nghe Sony, người bình thường sẽ nghĩ đại khái rằng đó là nhứng chiếc tai nghe tốt, âm thanh hay, các fan thì sẽ nhớ đến những cái tên như EXTRA BASS, Hires,…, audiophile thì nhớ đến những cái tên huyền thoại “vang bóng một thời” của hãng.

Thế nhưng cũng có vài sự thật ít ai biết về Sony, trong số nhiều cột mốc tiên phong hay sản phẩm đáng nhớ hay được kể, rất ít khi ba cái tên sau được nhắc đến: E252, G61, NC500D.

Đối với tai nghe nhét tai, có hai kiểu thiết kế chính là in-ear và earbud. Trong khi tai nghe in-ear có thêm lớp đệm mút và chui sâu vào trong tai, thì loại earbud lại “trần như nhộng” và nằm ở ngoài ống tai. Và kiểu thiết kế earbud mà điển hình là mẫu MH410c hay hằng hà sa số ngoài kia, chính là khởi nguồn từ mẫu MDR-E252 mà Sony giới thiệu 35 năm trước – năm 1982.

1997 MDR-G61 1

Tai nghe đeo cổ đầu tiên trên thế giới MDR-G61

Bắt đầu từ đòi hỏi của khách hàng: Làm sao tôi có thể nghe nhạc nhưng không làm rối tóc, khi mà gọng chiếc tai nghe cứ ôm lên nó?

Để đáp ứng đòi hỏi này, nhóm kĩ sư Sony đã tìm ra một giải pháp. Đối với những tai nghe có gọng ôm sát vòng qua đỉnh đầu, chỉ cần chuyền nó xuống cổ phần dưới gáy là mái tóc của bạn sẽ được bảo toàn, ngoài ra cảm giác đeo cũng nhẹ nhàng, thoải mái hơn hẳn. Về sau, dựa trên thiết kế neckband này của Sony mà nhiều mẫu tai nghe không dây khác được trình làng, chủ yếu đặt phần gọng xuống dưới gáy để tránh tác động lực lên đầu khách hàng, nối với phần củ tai có thể là loại in-ear như SBH80, earbud như SBH70 hay on-ear như mẫu G61 “thủy tổ” ở trên.

Ngày nay, tai nghe neckband được bắt gặp rất nhiều, chủ yếu là nhờ vào thiết kế gọn nhẹ của nó giúp phát huy tối đa tính tiện lợi của tai nghe không dây. Và người khởi xướng phong cách thiết kế tai nghe neckband vòng ra sau gáy chính là Sony với mẫu G61 ra mắt năm 1997.

2008 NC500D

Tai nghe chốn ồn KTS đầu tiên trên thế giới NC500D

Sony trình làng mẫu tai nghe chống ồn cao cấp 1000X tại IFA 2016 với lời tuyên bố đây là tai nghe chống ồn tốt nhất thế giới. Sau nhiều hoài nghi, người ta đã phải gật gù với những gì mà nó mang lại không hề phóng đại so với quảng cáo. Trên rất nhiều trang công nghệ đánh giá sản phẩm, 1000X luôn lọt vào top “đề nghị mua” của ban biên tập bởi khả năng chống ồn xuất sắc, thiết kế sang trọng, lịch lãm và mức giá không hề đắt hơn các đối thủ khác.

Và ít ai biết cách đây 9 năm – năm 2008 – chính Sony cũng là người đã công bố mẫu tai nghe chống ồn KTS đầu tiên trên thế giới NC500D, có thể xem là “tiền bối” của 1000X ngày nay.

Sử dụng công nghệ chống ồn KTS chủ động, một micro thu âm thanh bên ngoài để mạch xử lí KTS tích hợp bên trong tai nghe phân tích và đưa ra tần số đối nghịch, giúp triệt tiêu những tiếng ồn không mong muốn, mang lại không gian tĩnh lặng cho người nghe. Sử dụng phần mềm DNC độc quyền với sự hỗ trợ của trí tuệ nhân tạo, giúp quét và lọc ra chính xác những tạp âm bên ngoài và loại bỏ chúng với ba tùy chọn máy bay, tàu hỏa/xe bus và văn phòng, hiệu quả đạt đến 99%. Nhờ vậy, NC500D được phóng viên trang CNET đánh giá là tai nghe chống ồn xuất sắc nhất tại thời điểm ấy, về khả năng khử ồn.

#3: Thiết lập 3 tiêu chuẩn lưu trữ vật lí phục vụ nghe nhìn.

1982 CD

Một chiếc đĩa CD ngày xưa

Khoảng thập niên 80, 90 trước kia, Sony được xem là hãng điện tử đã dẫn dắt ngành công nghiệp điện tử toàn cầu. Một trong những cách “kiểm soát” thế giới của hãng chính là “nắm thóp” các tiêu chuẩn lưu trữ. Sony đồng thời là người đã phát minh ra ba tiêu chuẩn và kiếm lợi nhuận khổng lồ từ đó, định hướng cách người dùng xem phim, nghe nhạc, cũng như sự phát triển của cả ngành.

Cùng với Philips, Sony là tác giả của phát minh Compact Disc hay còn gọi là CD, lịch sử phát triển của đĩa CD cũng gắn liền với Sony qua nhiều năm và được họ xem là một niềm tự hào. Năm 1982, đĩa CD chính thức được thương mại hóa và sớm trở thành một vật dụng quen thuộc của mọi nhà hàng chục năm sau đó – thế hệ 10x bây giờ thì có thể không biết, nhưng 9x trở về trước thì chắc chắn sẽ biết. Đầu chơi CD đầu tiên được ra mắt năm 1982 tại Nhật là mẫu CDP-101 của Sony.

1999 SACD

Đĩa SACD “Falling into You” của diva Céline Dion

Lợi nhuận kiếm được từ CD là cực kì khổng lồ. Chính điều này đã kích thích Sony và công ty Philips nghiên cứu một tiêu chuẩn mới hòng lặp lại thành công tương tự như CD. Năm 1999, Sony và Philips chính thức trình làng tiêu chuẩn lưu trữ vật lí mới, Super Audio CD (SACD) với chất lượng được khẳng định là tốt hơn CD thông thường nhiều lần. 

Tuy nhiên, lịch sử đã không lặp lại, cái bóng của CD là quá lớn và SACD đã thất bại trong việc nối tiếp thành công của người tiền nhiệm. SACD không nhận được sự hưởng ứng từ thị trường tiêu dùng như CD đã từng, nhưng do chất lượng được đánh giá cao, nó vẫn tiếp tục tồn tại ở thị trường ngách dành cho các audiophile và giới thu âm.

1999 XA9000ES

Đầu chơi SACD XA9000 của Sony, flagship thế hệ thứ ba có giá 3.000 USD (thế hệ đầu tiên có giá 5.000 USD)

Tuy vậy, dựa trên kĩ thuật ghi âm DSD (Direct Stream Digital) dùng cho tiêu chuẩn SACD, Sony sau đó đã công bố một định dạng lưu trữ kĩ thuật số mới với tên DSD (định dạng file là .dsf). Đến thời điểm hiện tại, người ta đã không còn tranh cãi nhiều về việc liệu DSD hay PCM tốt hơn hay liệu âm thanh độ phân giải cao có thực sự tuyệt vời hơn những tiêu chuẩn dưới nó, định dạng DSD của Sony vẫn được nhiều người chơi âm thanh tín nhiệm. So với các file nhạc mp3 hay flac thông thường, file nhạc DSD có thể nặng đến cả GB, các thông số kĩ thuật cũng vượt trội hoàn toàn.

Ngày nay, khả năng giải mã DSD trực tiếp (DSD native) đã được xem là tính năng tiêu chuẩn cho các thiết bị âm thanh KTS, nguồn nhạc cũng ngày một phong phú hơn, DSD hiện đang là tiêu chuẩn âm thanh KTS xịn nhất hiện nay và giành được chỗ đứng nhất định trong lòng các audiophile.

2000 BD 1

Và đến Blu-ray, định dạng lưu trữ quen thuộc với những tay chơi phim ảnh

Nếu như CD là “cú hit” toàn cầu cho ngành công nghiệp nghe nhìn, SACD hay DSD thì được giới chơi âm thanh yêu thích, những “mọt phim” hay cộng đồng videophile nói chung lại đặc biệt tín nhiệm đĩa Blu-ray (BD: Blu-ray Disc). Và cũng giống như các tiêu chuẩn kia, BD cũng chính là tiêu chuẩn lữu trữ được Sony phát triển và nâng đỡ, lần đầu tiên ra mắt công chúng vào năm 2000.

Trong khi Sony tung ra BD thì “người đồng hương” Toshiba lại ở mặt trận đối lập, giới thiệu chuẩn HD DVD. Vậy là từ đây, hai gã khổng lồ Nhật Bản bắt đầu mở màn cuộc chiến định dạng “kinh hoàng” cuốn theo hàng chục các tên tuổi lớn nhỏ khác của ngành công nghệ cũng như giải trí tham gia. Tuy nhiên, sau suốt gần một thập kỉ “giằng co” với chiến thắng thuộc về đội Sony, các chuyên gia vẫn nhận định đây là kết cục “lưỡng bại câu thương” cho cả hai bên. Toshiba thì chịu khoản lỗ 1 tỉ USD, Sony tuy chiến thắng nhưng thu lợi nhuận về cũng chẳng dồi dào như kì vọng bạn đầu, các công ty liên quan khác cũng tương tự. Và trong khi BD đối đấu với HD DVD, người dùng mệt mỏi với cuộc chiến đã dần chuyển sang hình thức lưu trữ trực tuyến và các dịch vụ trực tuyến khác để thưởng thức phim ảnh.

2000 Sony BDP-S5100

Đầu chơi BD của Sony, mẫu S5100

Niềm an ủi cho Sony đó là, tuy BD thất bại trong việc trở thành tiêu chuẩn toàn cầu của thị trường tiêu dùng, những nó vẫn tìm được chỗ đứng tại thị trường ngách dành cho những người muốn xem phim với chất lượng vượt trội – tương tự SACD hay DSD. Bản phim BD luôn là bản cuối cùng được nhà sản xuất chăm chút nhất, hơn bản chiếu rạp và bản TV. Thậm chí ở Nhật, người ta sẵn sàng mua Anime BD để tận hưởng chất lượng hình ảnh cao nhất kể cả khi đã xem xong hai bản kia.

Hiện nay, BD vẫn được xem là tiêu chuẩn chất lượng cao nhất để bạn thưởng thức một bộ phim, hàng năm nhà sản xuất vẫn đều đặn ra mắt các tựa đĩa mới phục vụ nhóm khách hàng khó tính này. Định dạng BD mới nhất hỗ trợ đầy đủ công nghệ hình ảnh 4K HDR cũng như các tiêu chuẩn âm thanh cao cấp, đem lại trải nghiệm chân thực nhất.

Người ta xem Sony là một “ông trùm giải trí”, không chỉ vì hang có dải sản phẩm phục vụ đầy đủ cho cả giới studio lẫn người dùng cuối, đồng sở hữu cả hai đơn vị sáng tạo nội dung là hãng đĩa và xưởng phim, mà còn bởi tầm ảnh hưởng của kẻ chuyên phát triển và thúc đẩy các định dạng giải trí nghe nhìn.

…(còn tiếp)…

Nguồn: (1), (2), (3), (4), (5), (6), (7), (8)(9), (10), (11), (12).

Check Also

IR 2018 1

Toàn cảnh kinh doanh của Sony năm 2017, định hướng và mục tiêu 3 năm tới

Ngài Yoshida mới lên chức là vị lãnh đạo thứ 11 trong lịch sử tập …

Sony's image sensors are pictured at the company's headquarters in Tokyo

Sony sẽ đầu tư 9 tỉ USD vào cảm biến hình ảnh ba năm tới, duy trì thế thống trị

Sony đang thống trị lĩnh vực cảm biến hình ảnh (ảnh: Reuters) Tại hội nghị …

One comment

  1. Lê Đức Huy

    Xem anime mà bản BD thì thôi rồi, sắc nét đến từng cọng tóc :)

Leave a Reply