OLED và những điều bây giờ bạn mới biết! (P2): RBG OLED và White OLED, thế lực đứng sau các công ty màn hình OLED Trung – Hàn

Sony XEL-1 - Chiếc TV OLED đầu tiên trên thế giới

 Sony XEL-1 – Chiếc TV OLED đầu tiên trên thế giới

Tiếp nối bài viết kì trước nói về các thuật ngữ chung, hôm nay chúng ta sẽ đi đến một nội dung tương đối quan trọng khi tìm hiểu về màn hình OLED: RBG OLED và White OLED. Ngoài ra, tác giả cũng sẽ mở rộng thêm cho các bạn về các công ty đối tác của các hãng sản xuất màn hình, nhằm mục đích giới thiệu để các bạn có cái nhìn bao quát hơn về màn hình OLED.

Trên thị trường hiện nay, có hai thái cực lớn đại diện cho hai công nghệ OLED: RBG – White. Các màn hình trên TV thì phần lớn là White OLED, còn màn hình cỡ vừa và nhỏ thì là RBG. Sở dĩ có sự phân hóa như vậy là do khác biệt về công nghệ sản xuất mà các hãng SDC, LGD áp dụng, đây đồng thời cũng là hai nhà sản xuất màn hình OLED lớn nhất.

RBG OLED: khó sản xuất, chi phí đắt đỏ, khó kiểm soát, chất lượng rất tốt.

Đối với RBG OLED, đó là bất kì màn hình AMOLED nào có điểm ảnh tạo nên từ các diode màu đỏ, xanh lá và xanh dương, ánh sáng màu của diode phát ra được bảo toàn không thay đổi. Như vậy, các màn hình di động dưới 9 inch của iPhone X hay V30, Galaxy Note 8 ngày nay đều thuộc RBG OLED, đối với màn hình lớn, chúng ta gần như không có do các hãng sản xuất đã thất bại trong việc thương mại hóa TV AMOLED dùng công nghệ RBG này – ngoại trừ một trường hợp duy nhất mà tác giả biết đó là màn hình TRIMASTER PVM-X550 kích thước lên đến 55 inch. Đối với màn hình cỡ vừa dưới 30 inch, chủ yếu là các máy tính bảng dùng màn hình AMOLED của Samsung, một số cực ít các mẫu laptop, và màn hình TRIMASTER.

RBG - Blue - White

Dựa theo màu sắc của diode phát sáng mà chúng ta có RBG – Blue – White, trong đó thì hai loại RBG và White được sử dụng là chủ yếu trên các sản phẩm ngày nay (ảnh: SID)

Như các bạn thấy trong hình trên, loại RBG OLED mà chúng ta đang nói đến có ánh sáng phát ra trực tiếp từ diode tương ứng để hiển thị, trong khi hai loại Blue và White thì diode lại phát ra ánh sáng một màu xanh dương hoặc trắng, sau đó đi đến thành phẩn chuyển đổi màu sắc để tạo ra ánh sáng đỏ, xanh lá, xanh dương cuối cùng.

Có thể thấy RBG có “con đường” từ diode phát quang đến mặt kính ngắn nhất, ánh sáng phát ra trực tiếp mà không bị biến đổi bởi thành phần nào. Đó chính là lí do vì sao RBG được đánh giá cao hơn ở cả hiệu quả phát sáng lẫn tiêu thụ điện. Tuy nhiên, cái khiến RBG khó đi vào trong thực tế đó là quy trình sản xuất phức tạp, cũng như vấn đề thoái hóa không đồng nhất giữa các diode (đã nói ở Phần 1).

Và bây giờ chúng ta sẽ đi vào quy trình sản xuất khó khăn đó.

SMOLED - PLES phys

Các màn hình AMOLED loại RBG hiện nay đều sử dụng vật liệu SMOLED, do vậy quy trình sản xuất phức tạp như thế nào cũng do loại vật liệu này tác động không nhỏ (ảnh: phys)

Shadow mask (mặt nạ bóng) có thể hiểu đơn giản là một cái khuôn tạo mẫu, làm bằng kim loại với trình độ chế tạo cực kì cao, mỏng dính chỉ từ 10 đến 30 micromet và được làm từ hợp kim chịu nhiệt cao. Người ta sử dụng mặt nạ bóng để xác định xem đâu là vị trí chính xác cần lắng đọng vật liệu hữu cơ – từng điểm ảnh phụ (sub-pixel) – trên bề mặt chất nền. Điều khiển bằng nam châm hút. Cứ sau khi tạo xong một loạt các điểm ảnh phụ màu đỏ, lại di chuyển đến vị trí mới để tạo ra điểm ảnh phụ xanh dương, rồi xanh lá, và lặp đi lặp lại. Mặt nạ bóng sẽ quyết định đến kích thước và độ phân giải đặt ra cho tấm nền định sản xuất, không tìm được đơn vị cung cấp loại phù hợp, bạn không thể chạy dậy chuyền và sẽ đánh mất hợp đồng. Công nghệ mặt nạ bóng hiện nay chủ yếu sử dụng là Fine Metal Mask (FMM).

Tại nơi mà mặt nạ bóng che chắn, vật liệu hữu cơ sẽ không thể đi qua để “bám” lên chất nền, do vậy độ chính xác của thành phần này phải đảm bảo ở mức rất cao, nếu không sẽ xảy ra tình trạng ô nhiễm giữa các điểm ảnh phụ. Chỉ có các lỗ trống bé li ti mới cho vật liệu đi qua, hệ quả là gây mất mát một phần nguyên liệu.

Maxell

Mặt nạ tích hợp bộ khung invar của Maxell, bằng phương pháp Electro Fine Forming sẽ tạo ra các lỗ hổng có độ chính xác cực kì cao để tạo mẫu các điểm ảnh R- B – G trên tấm nền, bộ khung bên ngoài làm từ hợp kim invar giúp gia cố chống giãn nở vì nhiệt trong quá trình bay hơi (ảnh: AVwatch)

Giá thành của thành phần này rất rất đắt đỏ, ngay việc chế tạo mặt nạ bóng đã đòi hỏi trình độ kĩ thuật cực kì cao dẫn đến không phải ai cũng sản xuất được. Bên cạnh đòi hỏi về độ mỏng và độ chính xác, mặt nạ bóng còn phải có độ bền lâu dài, chịu được mức nhiệt độ rất cao trong quá trình làm bay hơi vật liệu SMOLED vốn tồn tại ở thể rắn vật lí, chỉ số CTE (hệ số giãn nở vì nhiệt) phải thật thấp để không xảy ra giãn nở, biến dạng (hiện tượng lún – “sagging”).

Và như đã nói, kích thước cũng như độ phân giải của tấm nền sẽ bị ảnh hưởng bởi mặt nạ bóng, đó chính là một phần lí do các hãng như Samsung, Panasonic, Sony thất bại khi theo đuổi RBG OLED trên TV. Về kích thước, công nghệ FMM chỉ có thể dùng được ở Gen 5.5 – 6, không thể dùng cho Gen 8. Về độ phân giải cao, 4K khá hiếm, 5K hay thậm chí 8K trên các màn hình lớn thì vẫn “mission impossible!”.

Đối với tấm nền di động dưới 9 inch, trên quy mô đại trà thì mới chỉ dừng ở 3K trên các mẫu Note 8, V30,… Giả sử SDC hay LGD tiến lên sản xuất tấm nền 4K, sản lượng ban đầu của họ chắc chắn cũng rất thấp và chi phí thì chắc chắn sẽ rất cao.

OLED shadow mask

Quá trình tạo mẫu điểm ảnh (ảnh: SID)

Do vậy, RBG OLED chủ yếu tồn tại nhiều nhất trên các thiết bị di động, và trong tương lai có thể là trên các thiết bị đeo đầu (HMD) ứng dụng cho thực tế ảo.

Tổng hợp lại, chúng ta có thể nếu ra một số ưu điểm cũng như nhược điểm của loại RBG OLED này:

Ưu điểm: 

  • Hiệu suất phát sáng cao.
  • Vòng đời lâu dài.
  • Góc nhìn cực rộng.

Nhược điểm:

  • Quá trình sản xuất cực kì phức tạp.
  • Tốn chi phí mua mặt nạ bóng phù hợp.
  • Không khả thi trên màn hình lớn.

White OLED: sản xuất đơn giản, chi phí vừa phải, dễ kiểm soát, chất lượng tạm chấp nhận.

RBG có tính khả thi không cao như vậy nên các hãng muốn ứng dụng OLED lên trên màn hình lớn phải tìm đường khác. Lựa chọn hợp lí nhất đó là White OLED.

Nếu như RBG OLED có nghĩa là ánh sáng phát ra từ các diode có màu đỏ, xanh lá, xanh dương tương ứng, thì White OLED lại là ánh sáng phát ra từ diode có màu trắng. Ánh sáng trắng này đi đến bộ lọc màu để chuyển thành các màu đỏ, xanh lá, xanh dương cần thiết. Như vậy, để tạo ra ánh sáng cuối cùng gồm ba màu cơ bản, White OLED phải đi qua thành phần trung gian là bộ lọc màu, trong khi RBG thì không.

Việc phân chia màn hình là loại RBG hay White là do ánh sáng đầu tiên diode hữu cơ phát ra, không phải ánh sáng cuối cùng trên mặt kính hiển thị, cũng không phải do ma trận điểm ảnh. Diamond Pentile hay WRBG hay RBG là chỉ cách sắp xếp điểm ảnh, còn muốn biết đó là tấm nền RBG hay White thì phải xem diode phát ra ánh sáng gì. Ví dụ bạn so sánh hình ảnh đầu bài và phía dưới đây, cùng là White OLED (ngoài cùng bên phải), một dùng ma trận RBG và một là WRBG.

rgb vs wrgb oled

White OLED có lớp phát sáng ra ánh sáng trắng, ở dưới có thêm một thành phần nữa là bộ lọc màu theo cấu trúc RGBW, trong khi RBG thì phát ra ánh sáng màu trực tiếp (ảnh: geeks)

Việc dùng diode phát ra ánh sáng trắng thay vì màu đã giúp White OLED đơn giản quy trình sản xuất. Như đã nêu ở trên, để sản xuất màn hình RBG, các hãng hiện nay chủ yếu tạo mẫu cho từng điểm ảnh R – B – G riêng biệt, rất phức tạp và tốn kém. Trong khi với White, lớp phát sáng chỉ toàn là các diode trắng, không cần phải tạo mẫu riêng lẻ và do vậy, không cần đến FMM. Vừa loại bỏ nguy cơ ô nhiễm điểm ảnh phụ, vừa loại bỏ một phần chi phí mua mặt nạ.

Ánh sáng trắng mà diode phát ra thực chất là tổ hợp ánh sáng của các vật liệu hữu cơ. Có nghĩa bạn dùng kết hợp vật liệu phát sáng đỏ với xanh lá để tạo ra màu vàng, sau đó kết hợp nó với một đơn vị phát sáng màu xanh dương để tạo ra màu trắng, màu trắng này chính là màu trắng mà lớp phát sáng phát ra để đi đến bộ lọc màu. Hay một cách pha màu khác là cho cả ba vật liệu R – B – G vào chung một lớp ánh sáng, màu sắc của chúng sẽ hòa vào nhau ra ánh sáng trắng.

Và khác với RBG vốn dùng ba diode màu riêng biệt, White OLED sẽ sử dụng các kiểu kiến trúc một ngăn xếp  hoặc đa ngăn xếp:

pha màu

Nguyên tắc pha màu cơ bản được dùng để tạo ra ánh sáng trắng: (Red + Green) + Blue = White (ảnh: Wikipedia) 

White OLED

Cách thức tạo ra ánh sáng trắng của White OLED (ảnh: SID)

Chúng ta sẽ nói về từng kiến trúc từ trái qua phải, loại xếp lớp song song ngoài cùng bên phải là loại cần quan tâm nhất vì đang được LGD sử dụng:

  • Single: Chỉ có một lớp phát sáng duy nhất. Tiến trình sản xuất đơn giản, hiệu suất bình thường nhưng vòng đời rất kém.
  • Multiple: Lớp phát sáng gồm Yellow và Blue. Tiến trình và vòng đời tốt và hiệu suất khả quan.
  • Color conversion: Một lớp phát sáng Blue và dùng phosphor vàng để tạo màu trắng (nguyên lí khá giống với White LED trên TV LCD). Tiến trình đơn giản, hiệu suất kém, vòng đời lâu dài.
  • Tandem: Chia các lớp phát sáng thành đơn vị nhỏ xếp chồng lên nhau. Hiệu suất và vòng đời xuất sắc, quy trình bình thường.

Tuy nhiên, White vẫn chỉ được xem là loại OLED thứ cấp, không bằng RBG. Việc dùng cơ chếgiống TV LCD (kết hợp đèn nền với bộ lọc màu) giúp kéo dài tuổi thọ và đơn giản hóa quy trình sản xuất so với RBG OLED, nhưng cũng phải đánh đổi. Do phải dùng bộ lọc màu để tạo ra  ánh sáng màu cuối cùng, một lượng đáng kể ánh sáng đã bị mất mát. Dẫn đến đánh mất ưu thế của công nghệ (true) OLED so với LCD ở chỗ loại bỏ đèn nền, ánh sáng phát ra từ nguồn không bị thay đổi mà đi trực tiếp lên màn hình hiển thị. Lí tưởng ban đầu đó là có thể tận dụng 100% ánh sáng để tái hiện hình ảnh, thì nay lại phải đánh đổi cho quá trình chuyển đổi màu sắc ở bộ lọc.

Cùng với đó là hai vấn đề khác phát sinh. Thứ nhất là việc bổ sung điểm ảnh trắng khiến mạch điện điều khiển phải thêm vào, bão hòa màu cũng giảm xuống (color gamut vì thế cũng giảm) và ánh sáng không còn tinh khiết nguyên bản nữa. Thứ hai là bộ lọc màu thêm vào cũng sẽ tốn thêm chi phí.

Tandem 3 stack

Kiến trúc xếp chống song song 2 lớp (trái) được dùng đến năm 2017, từ năm 2018, LGD kì vọng có thể áp dụng kiểu xếp chồng song song 3 lớp mới (phải). Mỗi lớp có một lớp phát sáng Blue hoặc Yellow/Green. (ảnh: OLEDnet)

Tấm nền AMOLED trên TV Bravia A1E của Sony là do LGD cung cấp và nó giống như các tấm nền trên TV OLED khác, đều sử dụng kiến trúc đa lớp xếp chồng (tandem). Gồm đơn vị phát sáng Yellow/Green và Blue trên cùng một diode, đây là loại 2 lớp.

Để bù đắp cho ánh sáng mất mát và bão hòa màu bị giảm, trong khi nhất thời chưa thể loại bỏ bộ lọc màu, LGD dự kiến sẽ áp dụng kiến trúc xếp chồng mới, 3 lớp thay vì 2 lớp như hiện nay. Việc này giúp sản lượng màu dồi dào hơn, ánh sáng phát ra được nhiều hơn, giảm bớt điện năng tiêu thụ với cùng một mức sáng yêu cầu so với loại bây giờ. CES 2018 sẽ bắt đầu giới thiệu các mẫu TV OLED mới, hy vọng các hãng LG Electronics, Sony, Panasonic,… sẽ kịp ra mắt sản phẩm áp dụng tấm nền kiểu này.

*Xem thêm: Những thách thức mà TV OLED phải đối mặt trong kỉ nguyên HDR.

Ngoài ra, còn một giải pháp khác cũng trong tầm tay của LGD để khắc phục vấn đề ánh sáng. Các tấm nền TV hiện tại phần lớn dùng  kiến trúc phát sáng đáy, gây hao hụt ánh sáng so với loại phát sáng đỉnh. Nếu LGD có thể chuyển sang kiến trúc phát sáng đỉnh để tận dụng được nhiều ánh sáng phát ra hơn, sẽ góp phần cải thiện tình trạng về màu sắc “nghèo nàn” cũng như đỉnh sáng thấp mà TV OLED đang gặp phải.

OLED on and off-axis

Vấn đề về góc nhìn không hẳn đã được giải quyết triệt để trên TV OLED, mặc dù nó vẫn tốt hơn nhiều so với loại LCD (ảnh: Mark Henninger, AVSforum)

Một vấn đề cuối cùng phải nói đến đối với White OLED đang áp dụng trên các TV AMOLED. Đó là có một chút sự biến đổi màu sắc khi bạn rời khỏi trục xem chính, tức góc nhìn cũng chưa phải là lí tưởng mặc dù vẫn tốt hơn nhiều các mẫu LCD. Nguyên nhân là bởi kiến trúc xếp chồng song song gây ra một vài sai lệch quang học, khiến màu sắc bị méo mó khi nhìn từ góc xiên. Cùng với đó, như đã nói ở trên, việc bổ sung thêm điểm ảnh White bên cạnh R – B – G truyền thống ảnh hưởng tiêu cực đến độ tinh khiết và bão hòa màu, LGD đã đưa ra một giải pháp là dùng kiến trúc buồng cộng hưởng (micro-cavity) để tạo ra sự giao thoa ánh sáng của vật liệu hữu cơ ở từng điểm ảnh. Thu hẹp dải băng thông màu nhằm đẩy bão hòa và tinh khiết của màu sắc lên cao hơn, hiệu quả đem lại lớn nhất khi xem ở trục chính, còn khi xem ở góc xiên sẽ gây hệ quả phụ làm biến đổi màu sắc.

Thực ra thì chúng ta có thể thông cảm với LG ở đây, việc áp dụng micro-cavity khiến góc nhìn không bảo toàn được chất lượng hình ảnh, nhưng đó là đánh đổi để kéo lại bão hòa và tinh khiết màu. Ngay cả Sony cũng dùng kiến trúc này trên các màn hình TRIMASTER nhằm đạt được hiệu quả tái tạo màu tốt nhất.

Tổng hợp lại, ưu và nhược của White OLED – công nghệ thứ cấp từng bị chỉ trích nhưng thời gian đã trả lời “thà có White OLED để dùng, còn hơn chịu xài tạm LCD” – trong khi RBG OLED thì quá phức tạp trên màn hình lớn:

Ưu:

  • Đơn giản hóa quy trình sản xuất.
  • Loại bỏ kĩ thuật Fine Metal Mask rất tốn kém, dùng Open Mask.
  • Khả thi trên màn hình lớn, dễ dàng mở rộng quy mô.

Nhược: 

  • Phải thêm vào thành phần bộ lọc màu dẫn đến nhiều đánh đổi phát sinh.
  • Tiêu thụ điện năng nhiều hơn RBG.
  • Gặp một chút vấn đề về góc nhìn.
  • Hiệu suất phát sáng kém.

Kodak

Kodak, “cha đẻ” của công nghệ White OLED (ảnh: logodatabases)

*Hiểu nhầm về công nghệ White OLED:

- Q: White OLED dùng cơ chế lọc màu giống LCD, vậy nó có phải LCD không?

- A: Không. White OLED là OLED, một loại màn hình tự phát sáng, khác với LCD là truyền dẫn ánh sáng. Bộ lọc màu không thay đổi bản chất này.

- Q: White OLED là công nghệ do LG phát minh?

- A: Không. LG là người kế thừa và thúc đẩy thương mại hóa đại trà công nghệ WOLED. Người được xem là “cha đẻ” thực sự của WOLED nói riêng và OLED nói chung chính là Kodak. Sáng kiến bổ sung điểm ảnh White để xử lí một số vấn đề gây ra bởi bộ lọc màu cũng là do họ đưa ra. Năm 2009, Kodak bán lại toàn bộ mảng phát triển OLED của mình cho LG với cái giá “rẻ mạt” 100 triệu USD. Tất cả các công ty hiện nay có sử dụng công nghệ OLED đều là “kẻ đi sau” của Kodak.

PLED và in phun mực: bước phát triển tương lai để OLED ngày càng bành trướng.

Như ở Phần 1 đã nêu, SMOLED là loại vật liệu được sử dụng chủ yếu hiện nay, do đã dùng SMOLED nên bắt buộc nhà sản xuất phải sử dụng quy trình lắng đọng chân không, nếu chọn RBG OLED như SDC hay Sony, bạn sẽ cần đến thành phần mặt nạ bóng với kĩ thuật FMM để tạo mẫu điểm ảnh, nếu White OLED như LGD thì không cần FMM mà chỉ cần Open Mask là đủ, bớt phức tạp. Tuy nhiên, bất kể thế nào thì chi phí đầu tư cho quy trình sản xuất kiểu này vẫn đắt đỏ và do vậy, các hãng sản xuất muốn tối ưu chi phí – lợi nhuận sẽ cần đến một phương pháp khác: in phun mực.

RBG OLED - White OLED - Printing OLED

Các quy trình sản xuất từ trái sang: Side-by-side (SDC và Sony) – White OLED (LGD) – Printing OLED (J-OLED) (ảnh: J-OLED)

Để sử dụng quy trình in phun mực vốn không cần đến mặt nạ và buồng chân không, nhà sản xuất phải chuyển sang sử dụng vật liệu PLED do Cambridge Display Technology tìm ra năm 1992. Sử dụng in phun mực cho phép các hãng sản xuất được tấm nền RBG OLED trên màn hình cỡ vừa dưới 30 inch, như J-OLED đang theo đuổi. Thậm chí tương lai có thể là tấm nền lớn cho TV!

Vấn đề lớn nhất đó là ở máy in. Phải điều chỉnh lại để đảm bảo chính xác đến từng micromet, quy trình lắng đọng vật liệu hữu cơ lên chất nền diễn ra trơn tru, không sai sót, không ô nhiễm sang điểm ảnh phụ lân cận. Chỉ cần một giọt bị “nghẽn” ở đầu ống phun, hay để tràn một chút sang điểm ảnh bên cạnh cũng sẽ phá hỏng toàn bộ tấm nền. Như vậy, mấu chốt nằm ở lượng dung dịch nhỏ ra đều đặn, cũng như độ chính xác tuyệt đối.

Thế lực đứng đằng sau các công ty màn hình OLED Trung – Hàn.

Trong nội dung cuối cùng của Phần 2, chúng ta sẽ nói về thế lực ẩn mình trong bóng tối, có tác động “dây chuyền” tới toàn bộ ngành công nghiệp hiển thị cũng như các hãng sản xuất thiết bị đầu cuối.

Chúng ta là người dùng cuối và các sản phẩm như TV hay điện thoại là thiết bị đầu cuối, công ty làm ra chúng là Apple, Samsung Electronics, LG Electronics và Sony,… Các công ty này phải mua tấm nền OLED về sản xuất thành phẩm cuối cho chúng ta, và họ sẽ mua từ các công ty sản xuất màn hình – SDC, LGD, BOE,  Tianma, JDI,… Thông thường, người dùng sẽ chỉ biết đến lớp công ty đầu tiên, dân công nghệ thì hiểu hơn đến lớp thứ 2, thế nhưng, hôm nay tác giả sẽ đề cập đến lớp thứ 3: các công ty cung cấp “đồ nghề” cho SDC hay LGD,…

OLED support

Ít ai biết, các công ty Nhật Bản đang tung hoành ở một thị trường ngách rất nhỏ, cung cấp trang thiết bị, thành phần và vật liệu cho các công ty sản xuất màn hình OLED (ảnh: Nikkei)

Do dung lượng đã khá dài, tác giả sẽ chỉ điểm qua những công ty đáng chú ý để mọi người biết, đây chính là các đối tác đang hoặc sẽ đứng đằng sau các hãng như SDC, LGD,…:

  • Idemitsu Kosan (Nhật): Đối tác cực kì quan trọng cung cấp vật liệu phát sáng Blue cũng như cấp phép sáng chế cho SDC, LGD. Một trong những “ông trùm” trên thị trường vật liệu hữu cơ.
  • Sumimoto (Nhật): Nghiên cứu và phát triển vật liệu PLED, thúc đẩy hoàn thiện quy trình in phun mực.
  • Cynora (Đức): Tập trung nghiên cứu và thúc đẩy thương mại hóa vật liệu TADF Blue, là niềm hy vọng của SDC và LGD để xử lí vấn đề thoái hóa diode xanh dương.
  • Kyulux (Nhật): Tập trung nghiên cứu và thúc đẩy vật liệu TADF, hyperfluorescence. Đã nhận được ủng hộ từ SDC, LGD, JDI,…
  • Universal Display (Mĩ): “Ông kẹ” của ngành công nghiệp về công nghệ OLED. Cung cấp vật liệu PHOLED và sáng chế cho các đối tác như SDC, LGD, AUO,… Ảnh hưởng UDC lớn đến nỗi, gần như tất cả điện thoại hay TV dùng màn hình AMOLED của chúng ta đều có “dính dáng” đến họ.
  • Dow Chemical (Hàn): Cung cấp vật liệu phát sáng và là một trong những công ty hóa chất lớn nhất thế giới.
  • Merck (Đức): Ông lớn khác cùng với Idemitsu nắm đến 70% thị trường vật liệu hữu cơ.
  • Mitsubishi (Nhật): “Bố già” ngành công nghiệp Nhật, cung cấp vật liệu chế tạo lớp phát sáng, TFT,…
  • Nissan Chemical (Nhật): Cung cấp vật liệu chế tạo HTL và HIL, hai thành phần liên quan đến lỗ trống (xem lại Phần 1).
  • Canon Tokki (Nhật): Nhà sản xuất hàng đầu về các trang thiết bị OLED, đặc biệt là hệ thống máy CVD. Các công ty như LGD, SDC hay BOE phải “tranh nhau xếp hàng” để mua trang bị của Canon Tooki, Cạnh tranh với họ có hãng Sunic (Hàn Quốc) nhưng trình độ kĩ thuật của Canon được xếp ở bậc trên.
  • Dai Nippon Printing (Nhật): Tên tuổi dẫn đầu thế giới trong chế tạo mặt nạ bóng, trình độ chế tác được xem là vô song trong ngành. BOE đã phải đợi kí được hợp đồng với DNP (sau khi hợp đồng độc quyền với SDC chấm dứt) mới có thể đi vào sản xuất AMOLED đại trà.
  • ULVAC (Nhật): Công ty chuyên thiết kế và sản xuất các trang thiết bị OLED dùng cho quy trình chân không, “đồng nghiệp” của Canon Tooki.
  • Kateeva (Mĩ): Đi đầu về các thiết bị in phun mực.
  • Seiko Epson (Nhật): Tập trung vào giải pháp in phun mực tiết kiệm chi phí, máy in đã hiệu chỉnh của Epson sẽ là lựa chọn tốt cho các công ty như LGD để tiếp cận phương pháp này.

Ngoài ra, các bạn có thể tham khảo thêm ảnh minh họa ở trên.

Phần 3: Tóm lược lịch sử 30 năm công nghệ OLED, những sản phẩm đáng chú ý thời kì đầu.

 

Nguồn: (1), (2), (3), (4), (5), (6), (7), (8).


Check Also

camera 1

Công nghệ Pixel Shift sắp xuất hiện trên điện thoại Xperia là gì?

Một trong những công nghệ chụp hình có khả năng cực cao sẽ xuất hiện ...

JOLED 4K monitor 1

JOLED thương mại tấm nền OLED 4K được sản xuất bằng quy trình in phun, mỏng 1.3mm

Tấm nền OLED mỏng 1.3mm được sản xuất bằng quy trình in phun mực của ...

Leave a Reply